Tác động qua đường ăn
Đối tượng phải ăn phải phần cây hoặc mồi đã được xử lý.
Bảo vệ thực vật / Cơ chế tác động / Vị độc
Thuốc vị độc phát huy hiệu quả khi sâu ăn phải phần cây hoặc thức ăn đã được xử lý. Cơ chế này phù hợp hơn với sâu miệng nhai, sâu ăn lá, sâu non và không phải lựa chọn chính cho côn trùng chích hút.
Vị độc là cơ chế tác động thông qua đường tiêu hóa của sâu hại. Sâu phải ăn phải mô cây hoặc bề mặt đã có thuốc thì hoạt chất mới phát huy hiệu quả.
Cơ chế này cần đúng tuổi sâu và đúng thời điểm. Khi sâu đã đục sâu vào thân, cành, trái hoặc không còn ăn phần đã xử lý, hiệu quả thường giảm rõ.
Đối tượng phải ăn phải phần cây hoặc mồi đã được xử lý.
Sâu non, sâu ăn lá đang hoạt động thường phù hợp hơn.
Thuốc cần nằm ở nơi sâu đang ăn hoặc sắp ăn.
Côn trùng chích hút không ăn mô lá theo cách sâu miệng nhai.
Phù hợp khi sâu còn nhỏ, đang ăn ngoài bề mặt lá.
Xử lý sớm trước khi sâu ẩn hoặc đục vào mô.
Cần đưa thuốc đến vùng sâu đang ăn.
Theo dõi lứa sâu, tuổi sâu và mật số để chọn thời điểm.
Cần thuốc chạm đúng vị trí; không nên kỳ vọng tự đi vào phần chưa phun.
Có thể đi vào mô nông hoặc xuyên qua lá ở mức nhất định, nhưng không phải lưu dẫn toàn cây.
Cây hấp thu thuốc vào mô; phạm vi di chuyển tùy hoạt chất và tình trạng cây.
Có khả năng di chuyển theo dòng vận chuyển trong cây, nhưng không đồng nghĩa đi đều mọi bộ phận.
Đối tượng phải ăn phải phần đã xử lý, phù hợp hơn với sâu miệng nhai.
Tác động qua hơi/khí, yêu cầu điều kiện kiểm soát và chuyên môn an toàn cao.
Kiểm tra đúng cây trồng, đúng đối tượng, đúng liều lượng, đúng thời gian cách ly và đúng quy định hiện hành.
Cần hiểu hoạt chất, nhóm cơ chế và mục tiêu xử lý, không chỉ nhìn tên sản phẩm.
Không tự ý pha chung nhiều sản phẩm khi chưa có khuyến cáo rõ trên nhãn hoặc từ kỹ thuật viên.
Tránh lặp một cơ chế quá lâu để giảm nguy cơ kháng thuốc và giảm áp lực dư lượng.
Nội dung chỉ giúp hiểu cơ chế tác động, không thay thế nhãn thuốc hoặc tư vấn kỹ thuật tại vườn. Khi dùng thuốc BVTV cần đọc kỹ nhãn, đúng cây trồng, đúng đối tượng, đúng liều lượng, đúng thời gian cách ly và đúng quy định hiện hành.
Khuyến nghị: Xử lý khi sâu còn nhỏ và đang ăn mạnh.
Tránh: Đợi sâu lớn, phân tán hoặc đã làm lá xơ xác.
Khuyến nghị: Theo dõi trứng, sâu non trước khi đục vào mô.
Tránh: Dùng vị độc khi sâu đã nằm sâu bên trong.
Khuyến nghị: Kiểm tra mặt dưới lá và đọt non.
Tránh: Phun lướt ngoài tán mà không tới vùng sâu ăn.
Khuyến nghị: Chọn cơ chế phù hợp hơn theo nhãn.
Tránh: Dùng vị độc như lựa chọn chính cho rầy, rệp, bọ phấn.
Khuyến nghị: Kiểm tra lại độ lưu thuốc trên bề mặt thức ăn.
Tránh: Cho rằng thuốc vẫn còn đủ sau mưa lớn.
Khuyến nghị: Luân phiên nhóm hoạt chất để giảm kháng.
Tránh: Dùng lặp cùng cơ chế qua nhiều lứa sâu.
Xác định sâu, bệnh, nhện, cỏ dại hoặc vị trí gây hại trước khi chọn cơ chế.
Cơ chế phù hợp vẫn kém hiệu quả nếu phun sai thời điểm hoặc không vào đúng vị trí.
Tán rậm, mưa, đất ẩm bí, cây suy hoặc rễ yếu đều ảnh hưởng đến hiệu quả.
Kết hợp canh tác, vệ sinh nguồn bệnh, quản lý nước và theo dõi mật số để giảm lệ thuộc thuốc.
Với vị độc, thời điểm sâu còn ăn phần đã xử lý là yếu tố quyết định.
Thuốc vị độc phù hợp với sâu miệng nhai, nhất là sâu non đang ăn ngoài bề mặt. Cơ chế này không nên dùng thay cho các cơ chế phù hợp hơn với chích hút hoặc sâu đã đục sâu.