Không chỉ nhìn tên thuốc
Hai sản phẩm khác tên vẫn có thể cùng hoạt chất hoặc cùng cơ chế tác động, nên luân phiên theo tên thương mại là chưa đủ.
BẢO VỆ THỰC VẬT / CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG
Hiểu cơ chế tác động giúp chọn thuốc BVTV đúng hơn, luân phiên hoạt chất hợp lý hơn và tránh dùng nhiều sản phẩm khác tên nhưng cùng một cách tác động. Đây là nền tảng quan trọng để giảm kháng thuốc, tăng hiệu quả phòng trừ và hạn chế lạm dụng.
Hai sản phẩm khác tên vẫn có thể cùng hoạt chất hoặc cùng cơ chế tác động, nên luân phiên theo tên thương mại là chưa đủ.
Bệnh trên bề mặt, sâu ăn lá, côn trùng chích hút, bệnh vùng rễ hay sâu đục trái cần nhóm thuốc có cơ chế phù hợp.
Dùng lặp lại một nhóm cơ chế làm sâu bệnh giảm nhạy thuốc, khiến hiệu quả xử lý ngày càng kém.
Cơ chế tác động là cách một loại thuốc BVTV tác động lên sâu hại, nấm bệnh, vi khuẩn, nhện, tuyến trùng hoặc cỏ dại. Có thuốc cần chạm trực tiếp vào đối tượng gây hại, có thuốc được cây hấp thu vào mô, có thuốc di chuyển trong cây, có thuốc tác động khi sâu ăn phải, có thuốc tác động qua hơi hoặc qua quá trình sinh trưởng của sinh vật gây hại.
Trong thực tế, nhà vườn thường nhớ tên thương mại nhiều hơn cơ chế tác động. Nhưng nếu chỉ đổi tên sản phẩm mà hoạt chất hoặc cơ chế vẫn giống nhau, sâu bệnh vẫn có thể tiếp tục chịu cùng một áp lực chọn lọc. Đây là lý do luân phiên thuốc theo tên gọi chưa chắc đã đúng.
Hiểu cơ chế tác động giúp chọn thuốc phù hợp hơn với vị trí gây hại. Bệnh nằm trên bề mặt lá khác bệnh đã vào mô; sâu ăn lá khác sâu đục trái; rầy rệp chích hút khác sâu miệng nhai; bệnh vùng rễ khác bệnh trên tán lá.
Thuốc cần tiếp xúc trực tiếp với bề mặt mô cây hoặc đối tượng gây hại. Hiệu quả phụ thuộc vào độ phủ, thời điểm phun và vị trí sâu bệnh.
Xem chi tiếtThuốc có thể thấm vào lớp mô nông của lá, thân, trái hoặc mô cây. Phù hợp hơn khi cần tăng khả năng bám và bảo vệ trong mô nông.
Xem chi tiếtThuốc được cây hấp thu vào mô ở mức độ nhất định, giúp tác động tốt hơn với một số bệnh hoặc nhóm chích hút trong mô cây.
Xem chi tiếtThuốc có thể di chuyển trong cây theo một hoặc nhiều hướng nhất định. Một số nhóm lưu dẫn phù hợp hơn với bệnh vùng rễ hoặc đối tượng khó tiếp cận.
Xem chi tiếtSâu hại bị tác động khi ăn phải mô cây có thuốc. Thường liên quan đến sâu miệng nhai, sâu ăn lá hoặc sâu non hoạt động bên ngoài.
Xem chi tiếtMột số hoạt chất có thể tác động qua hơi ở phạm vi nhất định. Cần dùng rất thận trọng vì hiệu quả và rủi ro phụ thuộc điều kiện môi trường.
Xem chi tiếtCó thể là tiếp xúc, thấm sâu, nội hấp hoặc lưu dẫn. Bệnh trên bề mặt thường cần phủ đều; bệnh bên trong mô hoặc vùng rễ cần nhóm có khả năng đi vào cây phù hợp.
Có thể tác động qua tiếp xúc, vị độc, nội hấp, lưu dẫn hoặc điều hòa sinh trưởng côn trùng. Cần chọn theo sâu miệng nhai, chích hút hay sâu ẩn bên trong mô.
Nhện cần thuốc tiếp xúc đúng vị trí mặt dưới lá hoặc nhóm đặc trị theo vòng đời. Tuyến trùng cần tác động ở vùng rễ, đất hoặc giá thể.
Có thể là tiếp xúc, lưu dẫn, tiền nảy mầm, hậu nảy mầm, chọn lọc hoặc không chọn lọc. Chọn sai cơ chế có thể làm cỏ không chết hoặc gây hại cây trồng chính.
Thường cần thuốc tiếp xúc hoặc thấm sâu, phun phủ đều và chú ý rửa trôi sau mưa.
Có thể cần nhóm nội hấp hoặc thấm sâu tùy tác nhân. Không nên chỉ dùng thuốc tiếp xúc khi bệnh đã vào sâu trong mô.
Cần xem xét nhóm lưu dẫn hoặc nhóm phù hợp với vùng rễ, đồng thời phải thoát nước, cải tạo đất và phục hồi rễ.
Có thể dùng nhóm tiếp xúc, vị độc hoặc nhóm tác động lên sâu non. Xử lý sớm thường hiệu quả hơn chờ sâu lớn.
Rầy, rệp, bọ trĩ, rệp sáp thường cần kiểm tra đúng vị trí và có thể cần nhóm nội hấp, lưu dẫn hoặc thuốc tiếp xúc phủ kỹ.
Kháng thuốc xảy ra khi sâu bệnh, nhện, tuyến trùng hoặc cỏ dại giảm nhạy cảm với một hoạt chất hoặc một nhóm cơ chế tác động. Khi nhà vườn dùng lặp đi lặp lại cùng một hoạt chất, hoặc nhiều sản phẩm khác tên nhưng cùng cơ chế, nhóm sinh vật còn sống sót có cơ hội tăng lên và làm hiệu quả thuốc giảm dần.
Luân phiên cơ chế tác động không có nghĩa là chỉ đổi tên sản phẩm. Cần xem hoạt chất thuộc nhóm nào, cơ chế tác động ra sao và đã dùng liên tục bao nhiêu lần trong một chu kỳ canh tác.
Luân phiên đúng giúp giảm áp lực chọn lọc, giữ hiệu quả thuốc lâu hơn và hạn chế tình trạng phải tăng liều hoặc phun dày hơn sau này.
Mỗi cơ chế tác động có điểm mạnh và giới hạn riêng. Cần chọn cơ chế theo tác nhân gây hại, vị trí gây hại, thời tiết, giai đoạn cây và mục tiêu phòng hay trị.
Nên ưu tiên cơ chế phù hợp khi đã xác định đúng đối tượng, vị trí gây hại và mục tiêu xử lý.
Cần thận trọng khi điều kiện vườn làm giảm hiệu quả thuốc hoặc cây đang ở giai đoạn nhạy cảm.
Sai lầm lớn nhất là chọn thuốc theo tên thương mại hoặc nghe kinh nghiệm, nhưng không hiểu thuốc tác động bằng cách nào.
Thuốc tiếp xúc và thấm sâu cần độ phủ tốt. Nếu sâu bệnh nằm ở mặt dưới lá, kẽ cành hoặc trong tán rậm, phun hời hợt sẽ kém hiệu quả.
Thuốc nội hấp hoặc lưu dẫn cần cây còn khả năng hấp thu qua lá hoặc rễ. Cây suy, rễ yếu, lá già cứng có thể làm hiệu quả giảm.
Mưa, nắng gắt, gió mạnh hoặc độ ẩm quá cao đều có thể ảnh hưởng đến hiệu quả và độ an toàn khi dùng thuốc.
Phối nhiều thuốc, phân bón lá, chất bám dính hoặc chất kích thích sinh học có thể làm giảm hiệu lực hoặc gây sốc cây.
Chọn cơ chế thuốc theo nấm bệnh, vi khuẩn, Phytophthora, bệnh lá, bệnh bông, bệnh trái và vùng rễ.
Xem chi tiếtLiên kết cơ chế tiếp xúc, vị độc, nội hấp, lưu dẫn và nhóm tác động lên côn trùng.
Xem chi tiếtHiểu vì sao trị nhện cần đúng mặt dưới lá và tuyến trùng cần xử lý vùng rễ.
Xem chi tiếtPhân biệt thuốc cỏ tiếp xúc, lưu dẫn, tiền nảy mầm, hậu nảy mầm, chọn lọc và không chọn lọc.
Xem chi tiếtĐọc cùng để dùng đúng nhãn, đúng liều, đúng thời điểm, đúng bảo hộ và thời gian cách ly.
Xem chi tiết