Lỗ đục
Có lỗ nhỏ trên thân, cành hoặc chồi; đôi khi khó thấy nếu tán rậm.
Bảo vệ thực vật / Thuốc sâu, rầy, rệp / Sâu đục thân, cành
Sâu đục thân, cành là nhóm sâu hại sống ẩn bên trong thân, cành hoặc chồi, gây héo cành, khô đọt, chảy nhựa, gãy cành và suy cây. Vì sâu thường trú ẩn bên trong mô cây, việc phát hiện sớm lỗ đục, mùn cưa, phân sâu và cành héo bất thường rất quan trọng.
Sâu đục thân, cành là nhóm sâu hại đục vào mô thân, cành hoặc chồi để ăn và trú ẩn. Khi đã vào sâu bên trong, sâu khó tiếp xúc với thuốc và gây hại kéo dài.
Trọng tâm quản lý là phát hiện sớm dấu hiệu lỗ đục, mùn cưa, phân sâu, chảy nhựa hoặc cành héo bất thường, đồng thời vệ sinh cành hại và giảm nguồn sâu trong vườn.
Có lỗ nhỏ trên thân, cành hoặc chồi; đôi khi khó thấy nếu tán rậm.
Vật liệu vụn hoặc phân sâu đùn ra quanh lỗ đục.
Cành héo hoặc khô đột ngột do đường dẫn bị phá.
Thân/cành chảy nhựa quanh vết đục, dễ nhầm với bệnh thân cành.
Cành yếu, rỗng hoặc gãy bất thường do đường đục bên trong.
Cần quan sát đúng vị trí gây hại, tuổi sâu, mật số và dấu vết còn mới hay cũ trước khi quyết định xử lý.
Là nơi sâu dễ chọn để đẻ trứng hoặc xâm nhập.
Vết cắt không được vệ sinh tạo cửa ngõ cho sâu và bệnh.
Khó quan sát lỗ đục, cành héo và mùn cưa.
Khi sâu đã vào sâu trong mô, hiệu quả xử lý giảm mạnh.
Gây suy cây, chảy nhựa hoặc gãy thân trên cây non.
Làm khô cành, gãy cành hoặc chết nhánh.
Làm đọt héo, cành non rỗng hoặc chậm phát triển.
Là vị trí dễ bỏ sót khi thăm vườn.
Sâu đục thường có lỗ đục, mùn cưa, phân sâu; bệnh thường có loét hoặc thối vỏ.
Khô sinh lý không có đường đục hoặc phân sâu.
Xì mủ do Phytophthora cần xem vùng gốc, mô vỏ và điều kiện đất ẩm.
Gãy do sâu thường có đường rỗng hoặc đường đục bên trong.
Kiểm tra lỗ đục, mùn cưa và cành héo bất thường.
Loại bỏ cành bị hại nặng để giảm nguồn sâu.
Vệ sinh và bảo vệ vết cắt sau tỉa cành theo nhãn.
Hiệu quả hơn khi sâu còn ở ngoài hoặc mới xâm nhập.
Có thể hỗ trợ theo dõi trưởng thành nếu có khuyến cáo phù hợp.
Emamectin benzoate, indoxacarb, chlorantraniliprole thường được nhắc khi sâu còn dễ tiếp cận.
Cyantraniliprole hoặc nhóm liên quan có thể dùng trong một số tình huống theo nhãn.
Beauveria, Metarhizium có thể hỗ trợ ở một số mô hình.
Sản phẩm bảo vệ vết cắt giúp giảm cửa ngõ sâu bệnh sau tỉa.
Các nhóm hoạt chất/sản phẩm nêu trên chỉ mang tính tham khảo nhận diện. Khi sử dụng thuốc BVTV cần đọc kỹ nhãn, đúng cây trồng, đúng đối tượng gây hại, đúng liều lượng, đúng thời gian cách ly và tuân thủ quy định hiện hành.
Khuyến nghị: Xác định lỗ còn hoạt động, vệ sinh và xử lý đúng vị trí.
Tránh: Phun tràn lan toàn tán nhưng không chạm vị trí sâu.
Khuyến nghị: Cắt kiểm tra đường đục, phân sâu và sâu bên trong.
Tránh: Kết luận ngay là bệnh khô cành.
Khuyến nghị: Vệ sinh dụng cụ, bảo vệ vết cắt và theo dõi trưởng thành.
Tránh: Để vết cắt hở trong mùa mưa.
Khuyến nghị: Tỉa cành suy, phục hồi cây và giảm nơi trú ẩn.
Tránh: Giữ cành khô làm nguồn sâu.
Khuyến nghị: Loại bỏ cành hại, theo dõi lỗ mới và dùng bẫy nếu phù hợp.
Tránh: Phun rộng làm mất thiên địch.
Khuyến nghị: Kết hợp vệ sinh cành, bẫy và xử lý đúng nhãn.
Tránh: Chỉ đổi thuốc nhưng không cắt nguồn sâu.
Kiểm tra đúng thời điểm giúp phát hiện sâu non, ổ rệp hoặc vị trí trú ẩn trước khi bùng phát.
Hạn chế phun tràn lan để bảo vệ ong ký sinh, bọ rùa, nhện bắt mồi và các nhóm có lợi.
Cỏ dại, tàn dư, trái rụng và ký chủ phụ có thể là nơi sâu hại trú ẩn hoặc sinh sản.
Nếu dùng thuốc BVTV, cần luân phiên nhóm cơ chế tác động và tuân thủ nhãn để giảm kháng thuốc.
Sâu đục thân, cành không nên xử lý như sâu ăn lá. Trọng tâm là phát hiện sớm, vệ sinh cành hại và xử lý đúng thời điểm.
Sâu đục thân, cành cần phát hiện sớm lỗ đục, mùn cưa và cành héo. Khi sâu đã trú sâu trong mô cây, xử lý khó hơn nhiều so với giai đoạn mới xâm nhập.