Lá bị cắn khuyết
Mép lá hoặc phiến lá bị ăn mất mô rõ, thường thấy trên lá non.
Bảo vệ thực vật / Thuốc sâu, rầy, rệp / Sâu ăn lá
Sâu ăn lá là nhóm sâu hại gây mất diện tích lá, làm giảm quang hợp, suy cây và ảnh hưởng đến ra đọt, ra hoa, nuôi trái, củ, hạt hoặc chất lượng hoa. Quản lý sâu ăn lá cần xác định đúng tuổi sâu, vị trí sâu trú ẩn, mức độ hại và thời điểm xử lý để tránh phun tràn lan khi mật số còn thấp.
Sâu ăn lá là nhóm sâu miệng nhai, ăn trực tiếp mô lá, lá non, đọt non hoặc lá cuốn. Khi mật số cao, cây mất nhiều diện tích quang hợp và giảm sức sinh trưởng.
Quản lý sâu ăn lá hiệu quả nhất khi phát hiện sớm sâu non, xác định vị trí trú ẩn và xử lý đúng thời điểm. Không nên đợi cây mất lá nặng mới xử lý.
Mép lá hoặc phiến lá bị ăn mất mô rõ, thường thấy trên lá non.
Lá có nhiều lỗ nhỏ hoặc mảng thủng do sâu non ăn rải rác.
Một số sâu cuốn lá hoặc nhả tơ để trú ẩn và ăn bên trong.
Có phân sâu trên lá, trong lá cuốn hoặc dưới tán.
Trường hợp nặng cây giảm quang hợp, đọt yếu và chậm phục hồi.
Cần quan sát đúng vị trí gây hại, tuổi sâu, mật số và dấu vết còn mới hay cũ trước khi quyết định xử lý.
Giai đoạn ra đọt, cây con hoặc rau màu non là nguồn thức ăn hấp dẫn.
Cỏ và cây phụ quanh vườn có thể nuôi sâu trước khi chuyển sang cây chính.
Không phát hiện sâu non làm sâu lớn nhanh và khó quản lý hơn.
Phun phổ rộng lặp lại có thể làm mất cân bằng sinh học trong vườn.
Vị trí sâu thường tấn công trước và gây thiệt hại mạnh.
Sâu non, trứng hoặc ổ sâu có thể nằm ở mặt dưới lá.
Nơi sâu ẩn nên thuốc tiếp xúc khó chạm tới nếu phun không đúng.
Khu vực khó quan sát dễ bỏ sót sâu và ổ trứng.
Sâu ăn lá làm mất mô rõ, còn chích hút thường gây bạc lá, xoăn lá, chấm li ti.
Bệnh lá có vết đốm/cháy lan theo mô, không có vết cắn hoặc phân sâu.
Vết ăn thường nham nhở và có thể có vệt nhớt.
Cháy thuốc xuất hiện sau phun, phân bố theo vùng tiếp xúc dung dịch.
Thăm vườn khi cây ra lá non để phát hiện trứng và sâu non.
Sâu tuổi nhỏ thường dễ quản lý hơn sâu lớn hoặc sâu đã cuốn lá.
Không chờ đến khi cây mất lá nặng mới hành động.
Nếu cần dùng thuốc, chọn đúng nhãn và luân phiên nhóm tác động.
Bacillus thuringiensis phù hợp một số nhóm sâu non ăn lá theo nhãn.
Beauveria, Metarhizium hoặc chế phẩm sinh học có thể hỗ trợ khi điều kiện phù hợp.
Lufenuron, teflubenzuron, novaluron là nhóm thường được nhắc trong quản lý sâu non.
Emamectin benzoate, indoxacarb, chlorantraniliprole, spinetoram thường gặp theo nhãn.
Bẫy đèn, bẫy pheromone hoặc bắt thủ công có thể phù hợp ở một số mô hình.
Các nhóm hoạt chất/sản phẩm nêu trên chỉ mang tính tham khảo nhận diện. Khi sử dụng thuốc BVTV cần đọc kỹ nhãn, đúng cây trồng, đúng đối tượng gây hại, đúng liều lượng, đúng thời gian cách ly và tuân thủ quy định hiện hành.
Khuyến nghị: Kiểm tra lá non, đọt non hằng ngày.
Tránh: Để cây mất lá sớm làm chậm hồi phục.
Khuyến nghị: Bảo vệ lá non khi sâu mới xuất hiện.
Tránh: Chờ sâu lớn, ăn rộng mới xử lý.
Khuyến nghị: Hạn chế phun xịt mạnh khi hoa nhạy cảm.
Tránh: Làm ảnh hưởng hoa, thiên địch hoặc côn trùng thụ phấn.
Khuyến nghị: Chú ý thời gian cách ly và chọn sản phẩm đúng nhãn.
Tránh: Phun sát thu hoạch không đúng quy định.
Khuyến nghị: Theo dõi, bắt thủ công hoặc ưu tiên sinh học nếu phù hợp.
Tránh: Phun tràn lan làm mất thiên địch.
Khuyến nghị: Xác định tuổi sâu, nơi trú ẩn và chọn nhóm xử lý phù hợp theo nhãn.
Tránh: Phun lặp một nhóm hoạt chất.
Kiểm tra đúng thời điểm giúp phát hiện sâu non, ổ rệp hoặc vị trí trú ẩn trước khi bùng phát.
Hạn chế phun tràn lan để bảo vệ ong ký sinh, bọ rùa, nhện bắt mồi và các nhóm có lợi.
Cỏ dại, tàn dư, trái rụng và ký chủ phụ có thể là nơi sâu hại trú ẩn hoặc sinh sản.
Nếu dùng thuốc BVTV, cần luân phiên nhóm cơ chế tác động và tuân thủ nhãn để giảm kháng thuốc.
Sâu ăn lá cần quản lý theo tuổi sâu, mật số và vị trí gây hại. Xử lý sớm khi sâu còn nhỏ thường hiệu quả hơn phun muộn.
Sâu ăn lá cần được quản lý theo tuổi sâu, mật số và vị trí gây hại. Xử lý sớm khi sâu còn nhỏ thường hiệu quả hơn phun muộn khi cây đã mất nhiều lá.