Xoăn lá, vàng lá
Lá non biến dạng, cong queo hoặc vàng do bị chích hút.
Bảo vệ thực vật / Thuốc sâu, rầy, rệp / Rầy, rệp
Rầy, rệp là nhóm côn trùng chích hút thường gây hại trên đọt non, lá non, mặt dưới lá, hoa hoặc trái non. Chúng hút nhựa làm xoăn lá, vàng lá, cây suy, tiết mật ngọt gây bồ hóng và có thể là môi giới truyền bệnh virus trên một số cây trồng.
Rầy, rệp là nhóm côn trùng chích hút nhựa cây, thường tập trung ở mô non, mặt dưới lá hoặc chùm hoa/trái. Khi mật số cao, cây bị xoăn lá, vàng lá, suy đọt và giảm sinh trưởng.
Ngoài gây hại trực tiếp, rầy rệp còn tiết mật ngọt tạo bồ hóng và có thể là môi giới bệnh virus. Thuốc trừ rầy không thể phục hồi cây đã nhiễm virus, nên quản lý môi giới sớm rất quan trọng.
Lá non biến dạng, cong queo hoặc vàng do bị chích hút.
Bề mặt lá, thân, trái dính ngọt, thường kéo kiến đến.
Nấm bồ hóng phát triển trên mật ngọt, làm đen bề mặt lá/trái.
Đọt chậm lớn, lá nhỏ, cây mất sức khi mật số cao.
Một số rầy, rệp có thể truyền bệnh virus trên rau màu, hoa hoặc cây ăn trái.
Cần quan sát đúng vị trí gây hại, tuổi sâu, mật số và dấu vết còn mới hay cũ trước khi quyết định xử lý.
Đọt non và lá mềm là nơi rầy, rệp tập trung sinh sản.
Kiến ăn mật ngọt và bảo vệ rệp, làm rệp khó giảm.
Nơi trú và nguồn lây rầy, rệp trong và quanh vườn.
Phun phổ rộng lặp lại làm giảm bọ rùa, ong ký sinh và nhóm có lợi.
Nơi thường thấy rầy, rệp và lá bị xoăn.
Cần lật lá kiểm tra để phát hiện mật số thật.
Có thể gây suy hoa, trái non xấu mã hoặc bồ hóng.
Nơi giữ nguồn rầy rệp giữa các lứa cây.
Bọ trĩ gây bạc lá, sẹo trái; rầy rệp thường có mật ngọt và bồ hóng rõ hơn.
Nhện gây bạc lá, chấm li ti và có thể có tơ; không tiết mật ngọt.
Virus gây khảm, xoăn, biến dạng; rầy rệp chỉ là môi giới trong một số trường hợp.
Thiếu chất không có côn trùng, mật ngọt, kiến hoặc bồ hóng.
Không chỉ nhìn mặt trên lá vì rầy rệp thường ẩn phía dưới.
Nếu có kiến, cần xử lý nguồn kiến và mật ngọt đi kèm.
Bọ rùa, ong ký sinh và nhóm có lợi giúp kìm mật số.
Thuốc trừ rầy không phục hồi cây đã nhiễm virus.
Hỗ trợ theo nhãn, cần phủ đúng vị trí và tránh điều kiện gây nóng cây.
Beauveria, Lecanicillium hoặc nhóm sinh học có thể hỗ trợ tùy điều kiện.
Nhóm thường được nhắc trong quản lý côn trùng chích hút theo nhãn.
Nhóm nội hấp/lưu dẫn tùy cây trồng, đối tượng và nhãn.
Hỗ trợ theo dõi mật số trong một số mô hình.
Các nhóm hoạt chất/sản phẩm nêu trên chỉ mang tính tham khảo nhận diện. Khi sử dụng thuốc BVTV cần đọc kỹ nhãn, đúng cây trồng, đúng đối tượng gây hại, đúng liều lượng, đúng thời gian cách ly và tuân thủ quy định hiện hành.
Khuyến nghị: Kiểm tra mặt dưới lá và ổ rệp sớm.
Tránh: Chờ lá xoăn nặng mới xử lý.
Khuyến nghị: Quản lý kiến, mật ngọt và ổ rệp cùng lúc.
Tránh: Chỉ phun rệp mà bỏ qua kiến.
Khuyến nghị: Xác định cây bệnh, quản lý môi giới và nguồn cây bệnh.
Tránh: Kỳ vọng thuốc rầy phục hồi cây virus.
Khuyến nghị: Chú ý mật số, thiên địch và thời gian cách ly.
Tránh: Phun sát thu hoạch sai nhãn.
Khuyến nghị: Theo dõi, bảo vệ thiên địch và vệ sinh cỏ dại.
Tránh: Phun phổ rộng không cần thiết.
Khuyến nghị: Phun đúng vị trí trú ẩn, quản lý kiến và luân phiên cơ chế.
Tránh: Phun lặp một nhóm hoạt chất.
Kiểm tra đúng thời điểm giúp phát hiện sâu non, ổ rệp hoặc vị trí trú ẩn trước khi bùng phát.
Hạn chế phun tràn lan để bảo vệ ong ký sinh, bọ rùa, nhện bắt mồi và các nhóm có lợi.
Cỏ dại, tàn dư, trái rụng và ký chủ phụ có thể là nơi sâu hại trú ẩn hoặc sinh sản.
Nếu dùng thuốc BVTV, cần luân phiên nhóm cơ chế tác động và tuân thủ nhãn để giảm kháng thuốc.
Rầy, rệp không chỉ gây hại bằng chích hút mà còn tạo bồ hóng và có thể truyền bệnh. Quản lý kiến và thiên địch là phần quan trọng.
Rầy, rệp cần được quản lý bằng kiểm tra đọt non, mặt dưới lá, mật ngọt, kiến và thiên địch. Không xem thuốc trừ rầy là cách phục hồi cây đã nhiễm virus.