Trichoderma được xem là một trong những chế phẩm vi sinh phổ biến nhất trong canh tác hiện nay. Nhiều nhà vườn dùng Trichoderma như một thói quen định kỳ, xem đây là giải pháp nền để giữ rễ khỏe và hạn chế bệnh đất. Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy một khoảng cách rất lớn giữa những vườn dùng hiệu quả và những vườn dùng không thấy cải thiện. Có vườn chỉ cần duy trì đúng nhịp, đất tơi hơn theo thời gian, rễ tơ ra mạnh và các vấn đề thối rễ giảm rõ rệt. Ngược lại, cũng có vườn bón liên tục nhưng đất vẫn bí, rễ vẫn suy, bệnh rễ vẫn tái đi tái lại, khiến người trồng hoang mang và kết luận rằng Trichoderma chỉ là phong trào.
Lưu trữ tác giả: Duli Agri
Trichoderma gần như có mặt trong mọi mô hình canh tác, từ vườn cây lâu năm ngoài trời đến nhà màng trồng giá thể. Sự phổ biến này khiến nhiều người mặc định rằng chỉ cần “có dùng Trichoderma” là cây sẽ khỏe hơn, đất sẽ tơi hơn, và bệnh rễ sẽ giảm. Nhưng nếu quan sát thực tế đủ lâu, nhà vườn sẽ thấy hiệu quả của Trichoderma chênh lệch rất lớn giữa các vườn, thậm chí giữa các khu trong cùng một vườn.
Trichoderma được nhiều nhà vườn xem như một giải pháp quen thuộc để phòng bệnh rễ và cải tạo đất. Hầu như mô hình nào cũng từng sử dụng, từ vườn cây lâu năm ngoài trời đến nhà màng trồng giá thể. Tuy nhiên, chính sự phổ biến này lại tạo ra một thực tế khó chịu: cùng là Trichoderma nhưng hiệu quả mỗi vườn lại khác nhau rất xa. Có vườn dùng đúng nhịp, đất tơi hơn theo thời gian, rễ tơ ra đều, bệnh rễ giảm rõ. Nhưng cũng có vườn bón liên tục mà không cải thiện, thậm chí rễ yếu hơn và cây suy nhanh khi gặp mưa kéo dài.
Trong vài năm gần đây, vi sinh có lợi như Trichoderma, Bacillus và nhiều nhóm nấm, vi khuẩn hữu ích khác được ứng dụng ngày càng rộng rãi. Nhà vườn tìm đến vi sinh với kỳ vọng rất thực tế: giảm bệnh rễ, cải thiện đất, phục hồi hệ rễ và hướng tới canh tác bền hơn. Vi sinh cũng xuất hiện trong nhiều quy trình hiện đại, từ ủ phân, làm compost, cải tạo đất, đến đưa vào hệ tưới nhỏ giọt trong nhà màng.
Phân bò là nguồn hữu cơ rất phổ biến trong canh tác vì dễ kiếm, giá hợp lý và phù hợp với nhiều nhóm cây trồng. Tuy nhiên, điểm yếu cố hữu của phân bò là nhiều xơ sợi, nhất là khi có lẫn rơm cỏ và chất độn chuồng, khiến tốc độ phân giải chậm hơn so với nhiều loại phân chuồng khác. Vì vậy, thời gian ủ thường kéo dài, đặc biệt nếu gặp thời tiết ẩm lạnh hoặc quy trình ủ chưa tối ưu.
Bọ trĩ là nhóm gây hại “nhỏ nhưng sát thương lớn”. Con rất nhỏ, khó nhìn rõ bằng mắt thường, nhưng hậu quả để lại lại rất dễ thấy: lá bạc màu rồi cháy mép, đọt non xoăn và biến dạng, trái non bị sẹo hoặc nám vỏ làm giảm giá trị thương phẩm. Trên một số cây, bọ trĩ còn có thể làm tăng rủi ro bệnh virus vì chúng tham gia vai trò môi giới truyền bệnh.
Phân bò là một trong những nguồn hữu cơ được dùng phổ biến nhất vì tương đối hiền, dễ kiếm và có tác dụng cải tạo đất khá rõ nếu sử dụng đúng cách. Nhiều nhà vườn chọn phân bò để tăng mùn, làm đất tơi hơn và giúp rễ đi bền, đặc biệt với vườn cây lâu năm hoặc những chân đất bắt đầu có dấu hiệu chai.
Bọ trĩ là một trong những nhóm dịch hại khiến nhà vườn “đau đầu” nhất, không phải vì chúng quá to hay quá dễ nhìn, mà vì chúng rất nhỏ và thường đánh trúng đúng những phần nhạy cảm nhất của cây. Khi vườn đang ra đọt non, đang trổ hoa hoặc vừa đậu trái non, chỉ cần bọ trĩ tăng mật số một nhịp là đọt có thể xoăn lại, hoa dễ rụng, trái non để lại sẹo và mất giá trị thương phẩm. Tổn thất nhìn thấy rõ, nhưng nguyên nhân lại khó xác định nếu người trồng chỉ quan sát bằng mắt thường.
Bọ trĩ kháng thuốc nhanh không hẳn vì thuốc kém, mà vì cách dùng của chúng ta thường đi theo phản xạ. Thấy bọ trĩ còn thì đổi sang một chai khác tên thương mại, nhưng bản chất vẫn đang lặp lại cùng cơ chế tác động. Khi cơ chế không đổi, áp lực chọn lọc không đổi, quần thể bọ trĩ chỉ cần thêm thời gian là “quen thuốc”.
Bọ trĩ không gây hại theo một kiểu cố định trong suốt vụ. Ở giai đoạn đọt, chúng đánh thẳng vào mô non đang bung, làm lá biến dạng và đọt yếu đi. Khi bước sang giai đoạn hoa, bọ trĩ lại tấn công vào cấu trúc rất mỏng manh của hoa, làm giảm khả năng thụ phấn và tăng rụng hoa, từ đó kéo theo giảm đậu trái. Khi trái non hình thành, vấn đề lại chuyển sang chất lượng thương phẩm, vì bọ trĩ để lại sẹo vỏ và da cám, mà một khi đã sẹo thì gần như không thể phục hồi đẹp lại.











